Publisher Theme
I’m a gamer, always have been.

Trận đánh Làng Vây – Battle of Lang Vei in siege of Khe Sanh 1968 – P6

0 58

Trong trận đánh Làng Vây – trận đánh Lang Vei ở Khe Sanh năm 1968 – Battle of Lang Vei in siege of Khe Sanh, đại tá David E. Lownds – trung đoàn trưởng trung đoàn 26 TQLC, chỉ huy căn cứ Khe Sanh đã từ chối tiếp cứu do e ngại bị phục kích

Lúc này gần 08:00, ở hầm chỉ huy, nhóm của đại úy Franklin C. Willoughby nghe nhiều tiếng súng vang lên lẫn tiếng súng máy, tiếng máy bay oanh kích và biết rằng nhóm giải cứu đang đến gần nhưng cũng thừa hiểu quân Giải Phóng sẽ không từ bỏ mà cố bắt sống nhóm Willoughby trước khi rút lui. Một quả lựu đạn lại được ném vào và hất tung Willoughby khiến anh bất tỉnh. Trung sĩ Fragos tiêm morphine cho Moreland để giảm đau vết thương đang rất nặng. Hơi Gas nồng nặc, thiếu nước uống khiến cả nhóm đều nôn dữ dội. Tất cả đều thầm cầu nguyền và hy vọng quân Giải Phóng sẽ rút lui khi thấy quân giải cứu của Mỹ đến

Lúc này, trung tá Schungel và trung úy Wilkins vẫn nấp trong đám gạch đổ nát ở phòng Y Tế – Dispensary, họ nghe nhiều tiếng máy bay oanh kích. Khoảng 09h30, khi cuộc không kích chấm dứt, 2 người bước ra ngoài và thấy ở phía Tây là 2 xác xe tăng bị cháy rụi do bị trúng không kích. Schungel thấy 1 máy bay đang bay vòng dọ thám , ông vẫy tay ra hiệu, chiếc máy bay lắc cánh báo hiệu lại đã nhìn thấy. Lúc này Schungel tin rằng ông và Wilkins là 2 người sống sót duy nhất

Cả hai tiến vào phía vị trí trung đội 1, họ thấy 1 chiếc xe tải còn chạy được và leo lên để lái. Quang cảnh hoàn toàn đổ nát , một tiếng la kêu cứu bằng tiếng Việt từ phía 1 căn hầm. Cả hai dừng xe vội đến tiếp cứu . Wilkins bước vào trong, Schungel bên ngoài và trúng 1 viên đạn vào hông và ngã nhào xuống. Ông đã bị thương lần thứ 3

Nhóm của Tirach khi đi lên phía Bắc thì may mắn gặp được nhóm của Ashley, Johnson và Allen nên được giải cứu . Nhóm của Ashley tổ chức cuộc tấn công lần thứ 2 để tiến đến khu chỉ huy. Quân Giải Phóng vẫn bắn trả ác liệt. Các binh sĩ Lào lại sợ hãi tháo lui. Khi Ashley gọi máy bay yểm trợ, Tirach thấy trung tá Schungel đang được 2 binh sĩ CIDI dìu, 3 lính CIDG khác đang dìu trung úy Wilkins trên đường 9 hướng về nhóm của Tirach . Các binh sĩ của Ashley vội vã chạy lên giúp đỡ và nhóm của Schungel được đưa về phía sau. Ashley gọi máy bay đến tải thương và báo cho nhóm của Willoughby rằng họ sẽ tổ chức tấn công lần thứ 3

Bản đồ bố trí lực lượng của quân đội Mỹ và hướng tấn công của quân Giải Phóng trong trận đánh Làng Vây năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam - Us soldiers deployment and NVA attack directions in battle of Lang Vei map in siege of Khe Sanh 1968 in Vietnam war 1968
Bản đồ bố trí lực lượng của quân đội Mỹ và hướng tấn công của quân Giải Phóng trong trận đánh Làng Vây năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam – Us soldiers deployment and NVA attack directions in battle of Lang Vei map in siege of Khe Sanh 1968 in Vietnam war 1968

Lần thứ 3 này, các binh sĩ Lào hoảng sợ nên bỏ trốn và chỉ còn khoảng 50 người. Tirach và Ahsley bắn vài quả cối 60mm về phía các công sự ở khu chỉ huy và từ từ cầm súng tiến lên, quân Giải Phóng vẫn bắn trả, quân Lào lại thoái lui. Ashley vẫn quyết tâm tiến lên, lần này hướng mũi tấn công về phía Tây. Anh yêu cầu máy bay oanh kích và bảo Johson lùi về sau để tìm khẩu súng không giật 57mm còn sót lại để nhằm phá các công sự. Từ xa quan sát cuộc không kích, anh phát hiện quân Giải Phóng có khoảng 9 người đang ẩn nấp và vài người đã trúng bom

Ashley tổ chức cuộc tấn công lần thứ 4, anh yêu cầu người bắn nhắm khẩu súng không giật 57mm hướng về 1 ụ súng của quân Giải Phóng, xạ thủ quá run nên viên đạn đi quá cao. Quá tức giận, Ashley xô người đó ra và tự thân cầm khẩu súng 57mm, một binh sĩ CIDG nạp đạn cho anh và anh bắn 3 phát chính xác, phá sập 2 lô cốt mà quân Giải Phóng đang cố thủ. Nhóm Ashley nhanh chóng băng qua các tuyến phòng thủ và hướng đến căn hầm chỉ huy và Ashley bị trúng đạn, viên đạn xuyên qua ngực phải và trổ xuyên qua điện đài sau lưng

Johnson và Allen lập tức lao đến chổ Ashley và kéo Ashley ra phía sau. Một chiếc xe Jeep được đưa đến và Johnson bồng Ashley lên để chạy về làng Làng Vây để sơ cứu. Trên xe, Johnson băng bó vết thương và thở hơi ngạt cho Ashley. Đột ngột, xe bị dừng lại vì quân Giải Phóng pháo kích, viên đạn nổ gần đó giết chết Ahsley và làm Johnson bị hất tung lên và bất tỉnh. Ashley sau đó được trung phong huân chương Danh Dự – Medal of Honor.

Lúc này đã là 11h10 mà nhóm giải cứu vẫn chưa đến được chổ Willoughby. Lúc này tại Đà Nẵng, tướng Westmoreland sau khi nghe các báo cáo đã ra lệnh cho đại tá Jonathan F. Ladd – chỉ huy lực lượng Đặc Biệt, thiếu tướng Norman J. Anderson – tư lệnh Không Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến – 1st Marine Air Wing chuẩn bị phương án giải cứu, ra lệnh cho Thủy Quân Lục Chiến cung cấp đủ trực thăng cho lực lượng giải cứu

Trong hầm chỉ huy, đại úy Willoughby đã hồi tỉnh, quân Giải Phóng vẫn tiếp tục ném lựu đạn vào trong. Họ đã bị mắc kẹt hơn 18 giờ và không có nước uống. Willoughby liên lạc và báo rằng anh muốn các máy bay sẵn có tiến hành oanh kích để nhóm của anh mở đường thoát ra ngoài. Moreland lúc này đã chết do bị thương nặng, các người còn lại đều bị thương không thể mang anh the nên Willoughby quyết định để Moreland ở lại và sẽ quay lại sau

Sau khi liên lạc xong, các máy bay oanh kích dữ dội, căn hầm như nảy tung lên. Trung úy Longgrear dẫn đầu, họ lặng lẽ bò lên tầng trên và thoát đến Nhà Tiếp Tế số 2 – Supply Bunker No 2. Khi Fragos là người thứ 6 thoát ra, quân Giải Phóng phát hiện và lập tức bắn ngăn chận. Longgrear dùng khẩu M16 bắn dữ dội làm khẩu súng quân Giải Phóng lặng im. Trung sĩ Phillips và Willoughby khiêng Earley thoát ra ngoài. Ở phía đông trung úy Quý với chiếc xe Jeep đến đón. Bọn họ thoát về làng Làng Vây an toàn. Ở đây, họ gặp lại trung tá Schungel dù đang bị thương vẫn dùng điện đài liên lạc với nhóm giải cứu khác đang trên đường đến. Willoughby cho biết bên ngoài căn cứ không còn ai. Schungel yêu cầu ném bom toàn bộ căn cứ Lang Vei ngoại trừ khu chỉ huy

Thiếu úy Paul R. Longgrear - đại đội trưởng đại đội Mike Force được di tản về căn cứ Khe Sanh sau trận đánh Làng Vây năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam - First Lieutenant (1LT) Paul R. Longgrear, the Mobile Strike Force (MSF) company commander was evacuated to Khe Sanh base after the battle of Lang Vei in siege of Khe Sanh in Vietnam war 1968
Thiếu úy Paul R. Longgrear – đại đội trưởng đại đội Mike Force được di tản về căn cứ Khe Sanh sau trận đánh Làng Vây năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam – First Lieutenant (1LT) Paul R. Longgrear, the Mobile Strike Force (MSF) company commander was evacuated to Khe Sanh base after the battle of Lang Vei in siege of Khe Sanh in Vietnam war 1968

Lúc này trong trại vẫn còn trung úy Todd bị thương đang cố thoát ra ngoài, anh bắt gặp Moreland đã chết và bị vùi trong đống gạch. Anh nhắm hướng làng Làng Vây và cố thoát về đó và thoát nạn. Lúc anh đến nơi, đội giải cứu với 50 người đã vừa đến với các trực thăng Huey và máy bay che chắn phía trên. Toàn bộ những người sống sót đều được di tản an toàn lúc 17h30

Gần 6.000 người gồm các dân tộc thiểu số ở vùng biên giới Việt Lào, dân Lào chạy sang, … tất cả cũng được di tản về căn cứ Khe Sanh

Tổng kết :

Trong trận Làng Vâytrận đánh Lang VeiBattle of Lang Vei, khẩu súng chống tăng M72 LAW – Light Anti-Tank Weapon đã thể hiện sự vô tích sự và không thể chống lại các xe tăng PT-76 của quân Giải Phóng. Ngược lại, các chiếc xe tăng PT-76 đã thật sự gây bất ngờ cho quân Mỹ và đây cũng là lần đầu tiên quân Giải Phóng đã sử dụng xe tăng để tấn công một căn cứ của quân Mỹ. Tuy nhiên, sự phòng thủ kiên cường của các cố vấn Mỹ cùng sự chống trả quyết liệt của các binh sĩ Dân Sự Chiến Đấu – CIDG đã khiến quân Giải Phóng bất ngờ, sự phối hợp giữa xe tăng và bộ binh cũng chưa nhuần nhuyễn . Ngoài 3 chiếc bị súng không giật 106mm bắn hạn, quân Giải Phóng cũng mất thêm 4 chiếc khác trên đường rút lui do trúng bom của không quân Mỹ

Xem lại : Trận đánh Làng Vây ở Khe SanhBattle of Lang Vei in siege of Khe Sanh 1968 – P5

Xem tiếp : Trận đánh Làng Vây ở Khe SanhBattle of Lang Vei in siege of Khe Sanh 1968 – P7

Leave A Reply

Your email address will not be published.