Publisher Theme
I’m a gamer, always have been.

Công và tội Phan Thanh Giản dưới cái nhìn của người Pháp – P2

0 22

Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến về Phan Thanh Giản là người yêu nước hay là bán nước do đã ký Hòa Ước Nhâm Tuất năm 1862

II.HỒI ỨC CỦA ĐẠI-TÁ HẢI QUÂN RIEUNIER (THÁNG 9-1873)

Cuối tháng sáu năm 1863, một phái bộ Việt Nam gồm ba sứ giả và 66 người tùy tùng, cầm đầu bởi Phan Thanh Giản và hộ tống bởi đại úy hải quân Rieunier, rời Huế lên đường sang Paris để đề nghị với chính phủ Pháp mua lại ba tỉnh Nam kỳ mà triều đình Huế đã phải nhường cho Pháp với hiệp ước Saigon năm I862. Khi ấy, các cuộc viễn chinh xa xôi không được tán thành cho lắm ở Pháp vì chúng được coi là làm nặng thêm các sự thiếu hụt của ngân sách quốc gia mà không đưa về một lợi ích cụ thể nào. Trong số những nhân vật kêu gọi sự trả lại ba tinh miền Đông Nam kỳ cho triều đình Huế, có trung tá hải quân Aubaret, là người hiểu biết nhiều về Viễn Đông, Aubaret có thảo vào năm 1863 một bản báo cáo để trình bày những ý kiến của ông về vấn đề Nam kỳ : bản báo cáo này được đề cập đến trong tài liệu phiên dịch sau đây.

Nhưng Rieunier, một sĩ quan đã tham dự các cuộc viễn chinh ở Trung hoa và ở Nam kỳ từ 1857 tới 1863, là một trong những người chống đối dự án triệt binh của Pháp ra khỏi Nam kỳ ; để cổ vũ cho sự chiếm cứ ở Nam kỳ, ông xuất bản dưới bút hiệu H. ABEL hai quyển sách nhỏ : « LA QUESTION DE COCHINCHINE AU POINT DE VUE DES INTÉRÊTS FRANÇAIS » (tháng 4-I864) và « SOLUTION PRATIQUE DE LA QUESTION DE COCHINCHINE » (cuối năm I864).

Sống trong bốn tháng gần vị lão thành cao thượng ấy, chúng tôi có thể đánh giá các đức tính của ông ta… Và hồi tưởng lại lúc ấy, tôi còn thấy ông ngạc nhiên trước những điều xảy ra trên đại hải trình từ biển Nam Hải tới Toulon ; trong thời gian vượt biển này, ông không ngớt được khuyến khích bởi lòng ái quốc nhiệt thành của ông, và thúc đẩy bởi nguyện vọng thực hiện được công chuyện hữu ích cho nước nhà…

Chúng tôi còn nhớ là, trong ba trường hợp mà cảnh tượng thiên nhiên kỳ diệu hay hùng tráng còn hiến thêm phần hứng thú, gần quần đảo Krakatow…, gần cù lao Périm…, và trong eo biển Messine…, quan sứ thần tư lự tới ngồi cạnh chúng tôi trên cầu chỉ huy của tầu Européen, và khơi chuyện về mục đích của sứ mệnh của ông. Chúng tôi khuyên can ông đừng có những mộng ảo về sự chuyển nhượng lãnh thổ mà chúng ta đã chinh phục, nhưng hứa ông sẽ được tiếp đón rất nồng hậu ở Pháp. Sau đó, chúng tôi đàm đạo về tương lai của xứ sở của ông, về khả năng của dân tộc xứ ấy, và về những lợi ích mà cả dân chúng và quan lại sẽ hưởng được của nền văn minh của chúng ta. Hơn bất cứ ai trong đồng bào của ông, ông kính trọng giá trị của nền văn minh ấy. Và ông luôn luôn chấm dứt câu chuyện bằng lời nói này : « Vẫn còn phải đợi, nhưng cho tới khi ấy hai quốc gia chúng ta sẽ không kém giao hảo »…

Ngày mà phái bộ tới Toulon, vào tháng 9-1863, một tin đồn phóng ra trong tờ báo Indépendance belge bởi một kẻ vụ lợi, và được tái đăng trong tất cả các nhật báo Pháp, rêu rao rằng vua Tự Đức trả cho ta 85 triệu quan để mua lại ba tỉnh ta chiếm lãnh, nhưng nhường cho ta quyền chiếm hữu thương cảng Saigon. Tổng trưởng tài chính của ta, gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giữ thăng bằng ngân sách vì những chi phí quá đáng của cuộc viễn chinh Mễ tây cơ, là người ủng hộ nhiệt liệt nhất (chúng ta dễ hiểu lập trường của ông) đề nghị này, sẽ được các sứ giả trình bày với những lời lẽ khác. Đã có một bản thuyết minh chép tay và sao ra 50 bản, đã được trình Hoàng đế ngự lãm, và cũng được trình cho các tổng trưởng và các nhân vật cao cấp chú trọng tới vấn đề. Tác giả bản thuyết minh ấy đã được hân hạnh tường thuật các kết luận trước hội đồng các tổng trưởng ; dường như Hoàng đế cũng đã chuẩn y các kết luận ấy nữa, và báo chí bán công ủng hộ chúng.

Bản biện hộ thư này phát ra mà không được hay biết gì bởi thống đốc Nam kỳ, vì sức khỏe suy bại phải nằm dưỡng bệnh tại Vichy ; nó được tán thành bởi giới cận thần của triều đình. Song sau khi đọc xong, mọi trí thức đứng đắn chắc phải lưỡng lự và hơn nữa có một thái độ phản đối trước các lập luận nghịch thường khéo léo chứa đựng trong ấy. Đấy là một khuyến cáo bất lương, có thể đã được phát biểu một cách vô ý thức và được ngụy trang dưới những ý kiến hấp dẫn vì độc đáo. Chúng tôi quyết định, sau khi tình cờ được đọc tài liệu ấy, nếu gặp dịp tốt sẽ triệt để bác luận nó.

Thật vậy, lương tri thông thường nhất chỉ cho thấy là không cần thiết dị trang mọi công chức của ta thành quan lại Trung hoa, sau khi đã tốn công tốn của dậy cho họ cái học vấn nghèo nàn của các sĩ phu thiên quốc, tất cả những điều đó để mà cai trị các dân chúng đã được đặt dưới sự đô hộ của ta. Vả lại, những lời cuối mà Hoàng đế nói để trả lời bài diễn văn đọc bởi vị chánh sứ rất là cứng rắn trong bản dịch của nó.

Các sứ giả An-na-mít, đã phải đợi trong lo âu đến hơn một tháng, ngày vào yết kiến Hoàng đế, khi trở ra kinh ngạc rụng rời vì câu nói mà ý chung cho mọi tình trạng có thể áp dụng cho trường hợp của họ. Họ tưởng rằng mục đích của họ đã hỏng. Ngày hôm sau, họ được cáo tri là sự phúc đáp cho sứ mệnh của họ sẽ được gửi tới Huế trong hạn một năm. Và, cùng một lúc, họ được mời phát biểu các đề nghị của họ về các sự thông thương giữa hai quốc gia. Kể từ khi ấy, mặt mày các sứ giả bắt đầu hớn hở hẳn ra. Họ hiểu rằng họ có thể rời nước Pháp với một vài hi vọng thành công…

III. MỘT CUỘC ĐÀM THOẠI GIỮA PHAN THANH GIẢN VÀ TRUNG TÁ ANSART

Được cử làm thống-đốc Nam kỳ kể từ ngày I tháng 5 năm I863, thượng tướng de La Grandière cho rằng cần phải sáp nhập nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, để bảo đảm sự an ninh cho ba tỉnh thuộc địa Pháp. Ngay từ năm I866, ông quyết định bắt triều đình Huế phải chấp nhận sự chuẩn nhượng các tỉnh Vĩnh long, An Giang và Hà Tiên cho Pháp. Hình như triều đình Huế thấy rõ tình trạng yếu ớt của mình và không còn hi vọng chống cự lại nổi các sự đòi hỏi đó : thái độ này được biểu lộ trong cuộc đàm thoại giữa quan kinh lược Phan Thanh Giản và trung tá hải quân Auguste Ansart, tư lệnh tỉnh Mỹ Tho, và sau này sẽ là tư lệnh tỉnh Vĩnh Long, trong những năm I867-I868.

Mỹ-tho, I8-II-I866.
Kính thưa Thượng tướng,

Tôi trân trọng trình lại Thượng tướng cuộc đàm thoại của tôi với Phan Thanh Giản ngày I6 tháng này, khi ông ta dừng lại ở Mỹ Tho, trên đường từ Sài Gòn về Vĩnh Long.

Vào khoảng 4 giờ chiều, tôi dẫn Phan Thanh Giản vào trong cái đình trong vườn ; ở đấy, sau khi đã cho tất cả đoàn tuỳ tùng của ông lui ra, chính ông đã mở đầu câu chuyện qua trung gian của Cha Marc, và đã hỏi tôi câu này : « Khi nào các ông sẽ chiếm ba tỉnh đấy ? » Tôi trả lời ông rằng tôi hoàn toàn không biết gì về điều này, nhưng trước khi đi sâu vào câu chuyện, tôi phải nhắc lại với ông là tôi không có một tư cách chính thức nào để bàn về các vấn đề tương tự, và nếu tôi nhận đàm thoại về vấn đề ấy, ông chỉ được coi những lời nói của tôi như là sự phát biểu những ý kiến riêng tư, không thể dưới bất cứ một hình thức nào ràng buộc chính phủ Pháp được.

Ông trả lời tôi rằng ông muốn nói chuyện với tôi như là một người bạn và, tiếp tục cuộc đàm thoại, hỏi tôi tại sao chúng ta lại muốn chiếm ba tỉnh :

” Các tỉnh này không phụ thuộc các ông sao, ông nói, và các quan lại không cố gắng thoả mãn tất cả mọi yêu sách của quan thống đốc sao ? Tất cả các sản phẩm của các tỉnh ấy không qua tay các ông sao ? Các ông không kiểm tra lối ra vào các tỉnh ấy sao ? Các ông hẳn không áp dụng ở đấy một quyền hành thật ra gần như tối cao, mà phái quá khích trách cứ chúng tôi ở triều đình, gọi chúng tôi là nô lệ của người Pháp ? “

Tôi trả lời ông rằng nếu chính phủ Pháp muốn chiếm hữu ba tỉnh, đấy không phải chỉ để mở rộng thêm lãnh thổ, nhưng vì một nhu yếu chính trị mà chắc ông còn hiểu rõ hơn tôi nữa.

Ông mới đáp lại rằng :

” Chính phủ Pháp sẽ viện một lẽ nào để trang sức sự lạm dụng thế lực ấy, vì chúng tôi sẽ không ngăn cản sự xâm lược bằng một sự kháng cự mà chúng tôi hiểu là vô ích ? Chúng tôi đã vi bội hoà ước ký trước đây chăng ? Tất cả mọi điều khoản của hoà ước ấy đã không được chúng tôi thi hành một cách trung thực hay sao ? “

Tôi trả lời Phan Thanh Giản là ông đã quên cuộc nổi loạn năm 1863 mà triều đình Huế đã xui dục đúng vào lúc còn nghị hoà với thượng tướng Bonard. Tôi nhắc lại với ông tất cả các sự phiến động trong các tỉnh của chúng ta, do những mật sứ chắc chắn đã được lệnh vì, nếu không, họ đã không thể nào tìm được nơi dân chúng tiếng vang mà họ đã gặp được. Tôi nhắc lại cho ông những sự toan tính của con trai của Quan Định(Trương Định), của Tien Ho(Thiên Hộ Dương – Võ Duy Dương), tức là hai lãnh tụ đã được họ ngầm giúp đỡ, chứa chấp và che chở ; các đoàn quân của những người này ngày nay vẫn về bè với Poukombo. Ngược dòng lịch sử, tôi hỏi ông triều đình Huế đã tôn trọng như thế nào hiệp ước với Louis XVI, và đã nhìn nhận như thế nào các sự giúp đỡ phi thường của giám mục Bá Đa Lộc và các sĩ quan Pháp tới phụng sự Gia Long. Chính phủ Pháp và trên toàn diện tất cả các chính phủ Âu châu ngày nay thấy rõ là các chính phủ Á đông ít đếm xỉa tới các hiệp ước ký kết với Âu Tây, và chúng ta không còn có thể tin tưởng ở lòng thành của các chính phủ ấy mà không có những bằng chứng rõ ràng và cụ thể.

Xem lại : Công và tội Phan Thanh Giản dưới cái nhìn của người Pháp – P1

Xem tiếp : Công và tội Phan Thanh Giản dưới cái nhìn của người Pháp – P3

Leave A Reply

Your email address will not be published.