Publisher Theme
I’m a gamer, always have been.

Chiến lược Tìm và Diệt cùng chiến lược bình định của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

0 887

Đến nay, nhiều người vẫn đánh giá rằng quân đội Mỹ nên sử dụng chiến lược bình định và giữ dân hơn là chiến lược Tìm và Diệt của tuong William Westmoreland

Chiến lược tìm và diệt

Tướng Westmoreland từng tham chiến cuộc chiến tranh Triều Tiên và được thưởng nhiều huy chương công trạng. Năm 1955, ông được thăng chức thiếu tướng khi mới 42 tuổi. Năm 1964, ông được cử làm tổng chi huy lực lượng quân đội Mỹ ở Việt Nam từ tháng 6 năm 1964. Chiến lược Tìm và Diệt của ông là các cuộc tấn công quy mô làm đối phương suy yếu theo cách thức số lính từ Miền Bắc đưa vào và số lính du kích bổ sung không thể bù đắp quân số bị tiêu diệt trong các trận đánh. ông nói câu nổi tiếng rằng quân đội Hoa Kỳ “sẽ giết cộng sản nhanh tới mức Bắc Việt không kịp thay quân“.

Ông tin rằng đe dọa lớn nhất cho VNCH đến từ các đơn vị chủ lực của Bắc Việt và lực lượng có vũ trang của Mặt trận Giải phóng chứ không phải là các nhóm Việt cộng nằm vùng, hoạt động chìm trong các khu do Mỹ và đồng minh kiểm soát. Ông ví Mặt trận chỉ như ‘đàn kiến’ gặm nhấm căn nhà VNCH, nhưng quân Bắc Việt thì mới là ‘côn đồ’ (bully boys), mang gậy sắt vào để “đập tan cả căn nhà đó”. Tướng William Westmoreland đã đưa quân đi tìm và chủ động đối mặt với lực lượng mạnh nhất của đối phương và từ năm 1965 đến 1969 liên tục diễn ra các cuộc hành quân quy mô chỉ nhằm tiêu diệt các đơn vị chủ lực của quân Giải Phóng. 

Lính Mỹ trong trận càn Junction City trong chiến tranh Việt Nam - US soldiers in Junction City Operation in Viet Nam war
Lính Mỹ trong trận càn Junction City trong chiến tranh Việt Nam – US soldiers in Junction City Operation in Viet Nam war

Phái ủng hộ ‘Chiến lược Tìm và Diệt’ cũng nói vì Hoa Kỳ bị trói tay bởi các ràng buộc ngoại giao: không được đánh ra Bắc Việt và đem quân sang Campuchia nên họ chỉ có thể ra quân tối đa trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Vì kẻ thù luôn ẩn khuất tại các vùng sâu và xa, việc triển khai hỏa lực lớn cũng không tạo ra thương vong nhiều trong các khu dân cư, ít ra là về lý thuyết.

Giữ dân và bình định

Sir Roberth Thompson, trưởng phái bộ quân sự Anh (BRIAM) ở Sài Gòn từ 1961 là một chuyên gia chống nổi dậy có thành tích ở Malaysia. Ông phản đối chiến lược Tìm và Diệt của Tướng bốn sao William Westmoreland, Tổng tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam. Ý kiến này được trung tướng Frederick Carlton Weyand tán thành khi cho rằng : “vấn đề cốt lõi để chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam là bình định những vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam”

Chiến lược của ông Thompson được ông Ngô Đình Nhu cụ thể hóa thành chính sách Ấp Chiến lược thời Tổng thống Ngô Đình Diệm được nhiều chuyên gia đánh giá là đã gây cho Việt Cộng nhiều thiệt hại và làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống du kích ở các vùng nông thôn. Ông Thompson cho rằng chính sách dùng nhiều hỏa lực và điều quân Mỹ ra khỏi căn cứ vào cách vùng xa xôi để truy tìm các đơn vị chủ lực của cộng sản là sai lầm. Theo ông, Hoa Kỳ cần định rõ ba mục tiêu cho sự can dự vào Nam Việt Nam: đánh địch, xây dựng quốc gia và bình định. Kinh nghiệm chống du kích cộng sản Malaysia (đa số gốc Hoa) và Việt Nam được ghi lại trong ‘Defeating communist insurgency: experiences from Malaya and Vietnam’ (1966) của ông Thompson.

Sir Thompson muốn quân Mỹ chấp nhận hai chính sách: quân sự phục tùng và hỗ trợ cho chính sách bình định; và tình báo nhắm vào Việt Cộng chứ không phải theo bám quân chủ lực Bắc Việt mà Mỹ gọi là Main Force Units. Vẫn theo Thompson, ‘Chiến lược Tìm và Diệt’ có vấn đề cơ bản là quân địch né tránh giao tranh để bảo toàn lực lượng, điều đã xảy ra nhiều lần. Các đề nghị của Thompson chỉ được Đại sứ Robert Komer, người phụ trách chính sách bình định của Mỹ tại Nam Việt Nam (1967-69), ủng hộ.

Lính Mỹ trong trận đánh Ia Drang 1965 trong chiến tranh Việt Nam - US soldiers in battle of Ia Drang in Viet Nam war
Lính Mỹ trong trận đánh Ia Drang 1965 trong chiến tranh Việt Nam – US soldiers in battle of Ia Drang in Viet Nam war

Hai ông Komer và Thompson nói công tác bình định nên để cho quân lực VNCH đảm trách vì họ biết ứng xử phù hợp nhất về văn hóa với người dân của họ. Phía Hoa Kỳ cũng có những người khác như Tướng D.R. Palmer ngay từ đầu đã phê phán chiến lược của Tướng Westmoreland.

Dung hòa cả 2 chiến lược

Quân đội Hoa Kỳ trên thực tế đã thực hiện ‘Tìm và Diệt’ đồng thời áp dụng ít nhiều cả chính sách của Robert Thompson. Tướng Westmoreland cũng đồng ý rằng quân đội Mỹ nên để công tác bình định cho quân lực VNCH.Ông tin rằng quân lực VNCH có khả năng tốt hơn trong việc xử lý các vấn đề với người dân của họ so với quân Mỹ, bất kể quân Mỹ có ý định tốt đến đâu. Về phía mình, Komer và Thompson cũng thừa nhận nhiều khu trù mật ở duyên hải được VNCH lập ra thành công, như ‘vùng an toàn’ (enclaves) theo viễn kiến của họ.

Trên thực tế, các chính sách chống nổi dậy và bình định cũng được quân đội Hoa Kỳ và VNCH thực hiện cho đến giữa năm 1966. Các đợt ‘Tìm và Diệt’ không chỉ dùng hỏa lực tầm xa mà cũng biến các cuộc hành quân thành công tác thanh lọc dân chúng, tìm ra ‘Việt Cộng’ để tiêu diệt. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới thảm sát Mỹ Lai năm 1968, khi trung uý William Calley và tiểu đội lính Mỹ đã giết hàng trăm người dân Nam Việt Nam.

Về mặt nào đó, việc ném bom ra Bắc Việt cũng là cách gỡ bỏ ràng buộc chính trị mà Tướng Westmoreland nêu ra rằng ông không được tấn công ra ngoài VNCH.

Cuối năm 1967, quân Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa đã tiến hành chiến dịch bình định và giành dân với tên gọi : “Chương trình Phượng Hoàng”. Được bảo trợ bởi Cục Tình báo Trung ương (CIA), Chương trình Phụng Hoàng sử dụng các lực lượng bán quân sự nhằm tấn công các đặc vụ cộng sản nằm vùng tại các thôn làng khắp Nam Việt Nam.

Đối phuong tự tiêu hao ?

Nhưng càng về sau, số lượng quân Bắc Việt và bộ đội địa phương của Quân Giải phóng trong Nam càng tăng lên cả về số lượng và vũ khí. Hỏa lực từ phi pháo và oanh kích bằng B-52 của Hoa Kỳ cũng tăng khủng khiếp. Các đợt ném bom Operation Arc Light dùng ba chiếc B-52 một lần, mỗi chiếc ném 80 trái bom 500 cân Anh xuống một diện tích rừng núi dài 1km, rộng 0,5km. Từ năm 1968, giao tranh lan vào các khu đông dân. Sir Robert Thompson đã thừa nhận vào cuối năm 1972 rằng chính sách tiêu hao sinh lực địch của Mỹ đã có những thành công đáng kể.

Và điều trớ trêu nhất là không phải đối phương bị quân Mỹ tìm và diệt mà lại là quân Mỹ tự dấn thân vào những nơi hẻo lánh nơi rừng núi và bị thiệt hại nặng trong các trận đánh trong những trận đánh vô bổ vùng rừng núi xa xôi như trận đánh Ia Drang , trận Đồi Thịt Băm, … và Việt Cộng lại từ bỏ vùng rừng núi quen thuộc để tham chiến ở thành thị và đồng bằng trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 và thiệt hại hàng vạn người theo đánh giá của Philip Davidson trong cuốn sách ‘Vietnam at War‘, phần về Robert Thompson và William Westmoreland. 

Di sản của Westmoreland và Thompson

Sau trận Tết Mậu Thân lần 2 tháng 4/1968, Westmoreland bị gọi về nước. Đề nghị tăng thêm 200 nghìn quân cho nửa triệu quân Mỹ bị bác bỏ và tướng Creighton Abrams thay ông làm Tư lệnh quân Mỹ ở Việt Nam. Tướng Abrams đã hạn chế lại việc dùng hỏa lực mạnh tại các khu dân cư và Hoa Kỳ đồng ý đàm phán để rút quân dần ra khỏi Nam Việt Nam.

Tướng Westmoreland đã kiện đài CBS News vì phóng sự ‘The Uncounted Enemy’ trong đó nói ông cố ý nêu đánh giá sai về sức mạnh quân địch trước trận Tết Mậu Thân. Ông đòi đài CBS trả 120 triệu USD tiền ‘bồi thường danh dự’ nhưng cuối cùng đã bỏ vụ kiện.

Sau khi tuong Westmoreland rời đi, Sir Robert Thompson tiếp tục làm cố vấn về bình định cho hai Tổng thống Richard Nixon và Nguyễn Văn Thiệu từ 1969 đến 1974. Chính Thompson được cho là người nêu ra sáng kiến ‘Việt Nam hóa chiến tranh’, tăng cường năng lực tác chiến cho quân đội VNCH thay thế dần quân Mỹ rút đi.

Trong cuốn ‘No Exit from Vietnam’ (1968), ông cũng kiến nghị tăng tuyên truyền chống lại Việt Cộng để giành ‘nhân tâm’, kiểm soát các vùng đã giữ. Ông Thompson để lại nhiều cuốn sách quan trọng như ‘Revolutionary War in World Strategy, 1945-1969’ (1970), và ‘Peace is not at Hand’ (1975).

Dù phê phán các quân đội Mỹ tiến hành chiến tranh, ông vẫn nghĩ cuộc chiến có thể thắng, và chiến thắng của người Mỹ sẽ là kết quả tốt nhất cho Việt Nam. Lập ra Viện Nghiên cứu Xung đột tại London, ông Thompson ra cuốn sách cuối cùng, ‘War in Peace’ năm 1981, phân tích các dạng chiến tranh từ sau 1945.

Sir Robert Grainger Ker Thompson qua đời năm 1992, thọ 76 tuổi. Các sách của ông và chiến lược chống nổi dậy lại được báo chí Phương Tây nhắc lại khi Hoa Kỳ sa lầy vào cuộc chiến Irag trong thế kỷ 21.

Leave A Reply

Your email address will not be published.