Publisher Theme
I’m a gamer, always have been.

Trận Mậu Thân 1968 nhìn từ phía nước ngoài

0 191

Trận Mậu Thân 1968 đã tạo bước ngoặc trong cuộc chiến ở Việt Nam. Đối với Việt Nam, đây là một thành công lớn khi làm Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Trận Mậu Thân 1968 nhìn từ phía nước ngoài sẽ ra sao ?

Ngày 6 tháng 7 năm 1967, lãnh đạo cấp cao của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà (Bắc Việt Nam) tập trung ở Hà Nội cho lễ tang của Tướng Nguyễn Chí Thanh, người chỉ huy lực lượng Cộng sản trong lòng Việt Nam Cộng hoà (Nam Việt Nam) và là một ủy viên Bộ Chính trị. Sau lễ tang, các thành viên Bộ Chính trị đã gặp nhau để bàn thảo những kế hoạch, đưa cuộc chiến tranh Việt Nam đi đến hồi kết nhanh chóng và thành công.

Về mặt quân sự, chiến tranh đã diễn ra không mấy tốt đẹp cho Việt Cộng và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, do không thể địch lại hỏa lực và độ linh động của quân đội Hoa Kỳ. Tướng Thanh từng ủng hộ việc giảm hoạt động ở Nam Việt Nam và tiến hành một cuộc chiến kéo dài hơn để làm người Mỹ mỏi mệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp rõ ràng ủng hộ kế hoạch này, nhưng lãnh đạo Bắc Việt kiên quyết kết thúc cuộc chiến bằng một trận đánh lớn và họ đã vạch kế hoạch cho Chiến dịch Tết Mậu Thân

Nói gọn, họ muốn lặp lại chiến thắng Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954. Kế hoạch này được cho là của tướng Giáp, nhưng thông tin sau này cho thấy ông không tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch này và thực sự đang ở Đông Âu “điều trị y tế” trong suốt thời gian kế hoạch đang được soạn thảo và áp dụng.

Thành công của kế hoạch phụ thuộc vào ba giả thiết: Quân lực Việt Nam Cộng Hoà sẽ không chiến đấu và thực tế sẽ sụp đổ dưới sự ảnh hưởng của cuộc tổng tiến công, quần chúng miền Nam Việt Nam sẽ nổi dậy và người Mỹ sẽ phải vỡ vụn trước cú đánh bất ngờ này.

Việc điều quân và chuẩn bị của phe Cộng sản cho cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 là kiệt tác của sự đánh lừa. Bắt đầu từ mùa thu năm 1967, Việt Cộng và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã tiến hành một loạt các trận đánh đẫm máu nhưng dường như vô nghĩa ở khu vực biên giới và phía bắc của Nam Việt Nam gần khu phi quân sự.

Vào tháng Giêng năm 1968, nhiều sư đoàn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam bắt đầu hội tụ về gần căn cứ thủy quân lục chiến Mỹ đang bị cô lập ở trận Khe Sanh tại phía bắc Vùng I Chiến thuật, gần khu vực phi quân sự.

Từ ngày 21 tháng 1 năm 1968 cho đến thời điểm các cuộc tấn công trên toàn quốc nổ ra vào dịp Tết, sự chú ý của phần lớn quân đội Hoa Kỳ nhắm vào Khe Sanh. Trận đánh đó trở thành nỗi ám ảnh với Tổng thống Lyndon Johnson. Ông có cả một mô hình địa hình của căn cứ Thủy quân lục chiến được xây dựng cho phòng Tình huống của Tòa Bạch Ốc.

Một chỉ huy cấp cao của Hoa Kỳ không bị lừa bởi chiến dịch nghi binh. Đó là Trung tướng Frederick C. Weynand – Phó Chỉ Chuy của tướng William Westmoreland và là chỉ huy của Lực lượng Dã chiến II có căn cứ tại Long Bình cách Sài Gòn 15 dặm về phía Đông. Ông là người rất ưa phân tích tin tức tình báo và các hoạt động của Quân Giải Phóng trước Tết Mậu Thân khiến ông nghi ngờ. Ông đã thuyết phục được tướng William Westmoreland tạm dừng các cuộc hành quân ở biên giới Campuchia và chấp nhận kế hoạch của tướng Weynard đưa 15 tiểu đoàn tác chiến của Hoa Kỳ quay lại Sài Gòn. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng cho phép tướng Weynand nhanh chóng tung ra các cuộc phản công và ngăn chận quân Giải Phóng ở Sài Gòn. Tướng Westmoreland sau này đánh giá, việc chuyển 15 tiểu đoàn lính Mỹ về Sài Gòn là một trong những quyết định mang tính sống còn trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968

Lúc 12:15 sáng ngày 30 tháng 1, Đà Nẵng, Pleiku, Nha Trang, và chín thành phố khác ở miền Trung Việt Nam bị tấn công.

Vào lúc 1:30 sáng ngày 31 tháng 1, Dinh Tổng Thống ở Sài Gòn bị tấn công.

Đến 3 giờ 40 phút sáng, thành phố Huế bị tấn công, và trận Tết Mậu Thân lên cao trào.

Trước khi ngày này đi qua, 5 trong số 6 thành phố tự trị, 36 trong tổng số 44 thị xã, và 64 trong tổng số 245 quận huyện đã bị tấn công.

Ngoại trừ Khe Sanh, thành cổ Huế, và khu vực xung quanh Sài Gòn, cuộc chiến kết thúc chỉ trong một vài ngày.

Huế được giành lại vào ngày 25 tháng 2, và khu vực Chợ Lớn của Sài Gòn đươc quét sạch vào ngày 7 tháng 3.

Đến ngày 20 tháng 3, các đơn vị của quân đội Nhân Dân Việt Nam xung quanh Khe Sanh bắt đầu tan hàng vì bị tấn công dữ dội bởi hỏa lực của Hoa Kỳ.

Về mặt quân sự, trận Mậu Thân 1968 là một thảm họa về chiến thuật đối với phe Cộng Sản. Hơn 58.000 quân Việt Cộng và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã thiệt mạng trong cuộc tấn công. Con số thương vong cho quân đội Mỹ là 3.895 người và quân đội Nam Việt Nam là 4.954 người. Tổng cộng hơn 14.300 dân thường Nam Việt Nam cũng thiệt mạng.

Nhưng lãnh đạo Bắc Việt lại hoàn toàn đúng trong giả định thứ ba. Kẻ thù của họ đã không đủ ý chí. Một mặt, Hoa Kỳ đã cho quân Cộng Sản một thất bại chí mạng về mặt chiến thuật và mặt khác lại đưa cho họ một chiến thắng về chiến lược.

Do đó, trận Mậu Thân 1968 là một trong những cuộc chiến lớn trong lịch sử mà đầy mâu thuẫn.

Trong trận Mậu Thân 1968, lực lượng Cộng Sản, và đặc biệt là Việt Cộng, đã bị tổn hại nặng nề. Các nhà hoạch định chiến lược của quân đội Hoa Kỳ ngay lập tức bắt đầu xây dựng các kế hoạch để kết liễu lực lượng Cộng sản ở miền Nam Việt Nam.

Westmoreland và tổng tham mưu trưởng Tướng Earle Wheeler chuẩn bị yêu cầu tăng cường thêm 206.000 quân để kết thúc công việc, thì một nhân viên không hài lòng trong Nhà Trắng đã tiết lộ kế hoạch cho báo chí. Câu chuyện được đăng trên New York Times vào ngày 10 tháng 3 năm 1968. Với những hình ảnh còn nóng hổi về việc Đại sứ quán Hoa Kỳ bị bao vây ở Sài Gòn, báo chí và công chúng ngay lập tức kết luận rằng cần thêm quân đội để phục hồi lại sau thất bại muối mặt.

Trận Mậu Thân 1968 như thế là bước ngoặt về tâm lý của cuộc chiến.

Người viết quân sử Hoa Kỳ, Chuẩn tướng S. L. A. Marshall có lẽ tổng kết trận Mậu Thân 1968 hay nhất khi viết: “Một thắng lợi tiềm năng to lớn đã biến thành một thất bại thảm hại do các ước tính sai lầm, mất tinh thần và một làn sóng của tư tưởng thất bại.”

Trích từ : Encyclopedia of the Vietnam War: a political, social, and military history (2011)

Leave A Reply

Your email address will not be published.